• 1800 6854

Các Loài Vi Sinh Vật Nguy Hiểm Nhất

Là một phần không thể thiếu trong hệ sinh thái của Trái Đất, vi sinh vật phân bổ ở khắp mọi nơi. Các nhà khoa học đã tìm thấy vi sinh vật trong tự nhiên, trên cơ thể các loài động vật và nhất là trên con người.

  1. Cách tập các bài tập tăng chiều cao trong 1 tháng tại nhà
  2. Cách tăng chiều cao sau khi qua tuổi dậy thì ở tuổi 20 - 25 tuổi
  3. Các bài tập kéo dài chân để có đôi chân thon dài - Elipsport.vn
  4. Bài tập thể dục giảm mỡ cho eo thon bụng nhỏ nhanh

Vi sinh vật và vi khuẩn thường bao gồm cả hai chủng: có lợi và có hại. Nếu các loài có lợi sẽ hỗ trợ bảo tồn tính toàn vẹn cho quá trình chuyển hóa tự nhiên thì song song đó, các loài có hại cũng gây ra không ít nguy hiểm cho những vật chủ mà nó ký sinh. Vậy con người chúng ta đã khám phá ra được các loài vi sinh vật nguy hiểm nhất là gì chưa? Hãy đọc tiếp.

1. Vi sinh vật là gì

Khoa học định nghĩa rằng, vi sinh vật là các sinh vật đơn bào và đa bào, nhân sơ hoặc nhân thực có kích thước vô cùng nhỏ chỉ nhìn thấy được khi sử dụng kính hiển vi. Hệ vi sinh bao gồm vi khuẩn, virus, nấm, tảo và nguyên sinh động vật. Chúng rất rất nhỏ và con người phải đo bằng micromet. Tuy vậy, chúng lại có khả năng hấp thụ nhiều và mang tốc độ chuyển hóa cực kỳ nhanh. Không những thế, khả năng sinh trưởng của chúng được cho là vượt trội so với các sinh vật khác nhờ vào sự thích ứng cực mạnh và dễ phát sinh biến dị.

Hiện nay, con người đã khám phá ra được rất nhiều chủng loại của chúng. Số lượng và chủng loại cua chúng thay đổi theo thời gian. Theo các thống kê, có khoảng hơn 100.000 loài vi sinh vật, trong đó có 69.000 loài nấm, 30.000 loài động vật nguyên sinh, 2500 loài vi khuẩn lam, 1500 loài vi khuẩn, 1200 loài vi tảo, 1200 loài virus,.... Do tính chất dễ thích ứng và phát sinh đột biến nên số lượng các loài cứ tăng dần theo thời gian và chúng phân bố ở khắp mọi nơi trên Trái Đất, kể cả những nơi như miệng núi lửa, đáy đại dương,....

vi sinh vậtCác loài vi sinh vật

Như đã nói, vi sinh vật có hai chủng:

  • Loại có lợi: loại này hữu ích cho đường ruột, hay "trú ẩn" trong thực phẩm con người và cũng như cây trồng.
  • Loại có hại: loại dễ gây bệnh từ nhẹ đến hiểm nghèo cho con người và cả vật nuôi, cây trồng.

Môi trường sống của chúng bao gồm môi trường nước, môi trường đất, môi trường trên mặt đấy như không khí và môi trường sinh vật như động vật, thực vật, cơ thể người.

2. Vi sinh vật phân bổ ở đâu trong cơ thể người?

2.1. Đặc điểm chung

"Tụ tập" như một quần thể, các vi sinh ở trên người khỏe mạnh được gọi là "vi hệ sống". Các loại này thường được phân chia thành: vi sinh vật ký sinh có hại cho con người, loại vi sinh cộng sinh có lợi cho con người và bản thân chúng, loại trung gian (còn được gọi là vi sinh vật hội sinh). Căn cứ theo thời gian chúng cư trú trên cơ thể mà ta sẽ chia được thành 2 nhóm như sau:

  • Nhóm có mặt thường xuyên: tồn tại trên cơ thể chúng ta theo năm hoặc vĩnh viễn.
  • Nhóm có mặt tạm thời: Lưu trú không thường xuyên, thường chỉ tồn tại vài giờ, vại ngày hoặc cao nhất là vài tuần.

Vai trò của hệ vi sinh bình thường (lành tính) trên cơ thể người cũng rất quan trọng. Chúng góp phần tổng hợp và tiết ra một số enzyme giúp cơ thể tăng cường hấp thu chất dinh dưỡng như vi khuẩn đường ruột E.coli giúp sản xuất vitamin K, vitamin B12,.... Bên cạnh đó, các loại cư trú tại chỗ cũng có khả năng ngăn cản sự xâm hại của những loại vi khuẩn gây bệnh từ bên ngoài. Đồng thời, vi sinh vật hỗ trợ kích thích sinh kháng thể phản ứng chéo - một loại "chất xúc tác" mà con người chúng ta rất cần.

2.2. Sự phân bổ

Có khoảng hơn 200 loài vi sinh đang tồn tại trên cơ thể chúng ta và được phân bố theo các bộ phận nhất định. Cụ thể như sau:

  • Vi sinh vật trên da

Bởi lẽ, da là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài nên đây cũng là nơi hệ vi sinh dễ dàng tiếp cận, "lưu trú" lại nhất. Tại đây chủ yếu tập trung các loại vi sinh vật có mặt tạm thời. Các loại này sẽ lấy thức ăn từ các chất da tiết ra như tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn và phân bố nhiều nhất ở các vùng da ẩm như da đầu, da mặt, kẽ ngón chân tay và nách. Trung bình, trên da chúng ta có thể chứa 102 - 103 con vi sinh vật trên một xăng ti mét vuông.

vi sinh vậtVi sinh vật trên da

Các loài thường thấy tồn tại trên da như: cầu khuẩn gram dương (Peptostreptococcus, Micrococcus sp, S.epodermidis), trực gram dương (Propionibacterium, Corynebacterium, Bacillus, Diptheroid). Dĩ nhiên, trong số các vi khuẩn, vi sinh kể trên có loại gây hại cho chúng ta, chính vì thế mà việc vệ sinh cá nhân rất quan trọng. Việc tắm rửa có thể làm giảm tới 90% vi sinh vật trên da. Sau đó khoảng vài giờ, chúng sẽ nhanh chóng tăng sinh trở lại nhờ tuyến mồ hôi, bã nhòm, các vùng da lân cận và từ môi trường. Chính vì vậy, phải thường xuyên vệ sinh tắm rửa để kiểm soát được sự tăng trưởng của hệ vi khuẩn, vi sinh trên da.

  • Vi sinh vật ở đường hô hấp

Sự phân bố của chúng ở đường hô hấp như sau:

+ Ở mũi chúng ta có E.epdermidis, Corynebacterium, S.aureus, Streptococcus.

+ Ở đường hô hấp trên bao gồm S.pneumoniae, Herpes, Streptococcus nhóm viridans, S.aureus, M.Catarrhalis, Adeno, Rhino.

+ Ở họng miệng chủ yếu chỉ có liên cầu khuẩn trú ngụ.

+ Ở đường hô hấp dưới như khí quản, phế quản và phế nang thì thông thường lại không có vi khuẩn nào ký sinh ở đây cả.

  • Vi sinh vật ở đường tiêu hóa

+ Ở miệng: được cho là nơi có điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nhờ vào nhiệt độ, độ ẩm, bã thức ăn còn sót, pH nước bọt mang tính kiềm nhẹ,... nên miệng chứa một lượng lớn vi khuẩn. Vi khuẩn ở đây đa số là liên cầu khuẩn như S.sanguinis, S.mitis, S.salivarius, S.Mutans và các cầu khuẩn kị khí như Veilonella, Peptostreptococcus. Bên cạnh đó, các tụ cầu như S.epidermidis, Lactobacillus, song cầm gram âm như Moraxella, catarrhalis, Neisseria cũng tập trung ở khu vực này.

+ Dạ dày: Hầu hết các loại vi khuẩn, vi sinh đều bị tiêu diệt ở dạ dày và pH axit dạ dày chỉ giữ cho lượng vi sinh vật còn lại ở mức tối thiểu là 103/gram thức ăn. Tuy vậy, cũng có một vài loại vi khuẩn có thể sống được trong dạ dày như H.Pylori và vi khuẩn lao. Đây là các vi khuẩn có hại, có thể gây viêm loét dạ dày tá tràng.

+ Ở ruột: với độ pH mang tính kiềm là >7, ruột thường là môi trường lý tưởng cho các loại vi khuẩn, vi sinh tồn tại. Nếu như ruột non là bộ phận có khá ít các loại vi khuẩn thì đi dần xuống dưới ruột già, "hệ sinh thái" lúc này cực kỳ "phong phú". Ở tá tràng sẽ chứa 103 con vi khuẩn/ml dịch, đại tràng chứa 108 - 1011 vi sinh vật/gram phân. Các loại vi sinh này chiếm 10-30% khối lượng phân của chúng ta. Các vi khuẩn hay sống ở ruột non là Enterococcus, Lactobacillus, Candida albicans. Các loại tồn tại ở đại tràng thì lại nhiều hơn như vi khuẩn kỵ khí (Bacteroides, Lactobacillus, Clostridium, Peptococcus) cùng với một số loại khác ưa khí như E.coli, Proteus, Klebsiella,Lactobacillus, Enterobacter, Enterococcus, B.cereus, Candida spp,... Đây là những vi khuẩn đóng vai trò trong việc hỗ trợ tổng hợp vitamin A, chuyển hóa sắc tố mật, axit và hấp thu các chất dinh dưỡng, từ đó chống lại sự xâm hại của các khuẩn gây bệnh.

vi sinh vậtCác vi khuẩn trong ống tiêu hóa

Xem thêm:

  1. Ngứa Vùng Kín: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị
  2. Khám Phá Granola - Món Ăn Healthy Của Người Mỹ
  3. Massage Mặt Là Gì - Công Dụng - Cách Massage Đúng Cách Chuẩn Xinh
  • Vi sinh vật ở đường tiết niệu

Thông thường, đường tiết niệu của chúng ta vô trùng và nước tiểu không hề có vi sinh vật nào cả. Tuy nhiên, đường tiếu niệu ở phía ngoài cùng niệu đạo sẽ có một ít loài vi khuẩn như E.coli, S.epodermidis, Enterococcus faecalis, alpha-hemolytic streptococci, Proteus. Những loại này có thể trôi nổi trong nước tiểu đầu ngày với số lượng dưới 104/ml.

  • Vi sinh vật tại cơ quan sinh dục

+ Với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (bé gái): ở âm đạo sẽ có các loại vi khuẩn như Lactobacillus acidophilus, cầu khuẩn cùng với trực khuẩn.

+ Ở phụ nữ từ tuổi dậy thì tới lúc mãn kinh: Do tác động của estrogen trong máu, tế bào biểu mô âm đạo có dồi dào glycogen. Lactobacillus sẽ chuyển hóa glycogen thành axit lactic, từ đó mà khiến âm đạo có tính axit (pH 4 - 5), chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh và nấm. Ở trường hợp người phụ nữ đã sử dụng kháng sinh hoặc đang bước sang thời kỳ mãn kinh, Lactobacillus sẽ bị ức chế khiến cho nấm và các loại vi khuẩn khác sinh trưởng mạnh rồi gây viêm nhiễm.

3. Các loài vi sinh vật nguy hiểm nhất đối với con người

3.1. Nhóm đặc biệt nguy hiểm

Các loài vi sinh vật sau đây thuộc nhóm đặc biệt nguy hiểm

  • Acinetobacter baumannii, kháng carbapenem: loài này thường tấn công hệ thống nội tạng chứa nhiều chất lỏng của con người, gây ra các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là ở đường tiết niệu.
  • Pseudomonas aeruginosa, kháng carbapenem: Góp phần gây ra một loại triệu chứng bệnh nguy hiểm như viêm phổi, nhiễm trùng mắt, nhiễm trùng da.
  • Enterobacteriaceae, kháng carbapenem và cephalosporin thế hệ 3: Đây chính là thủ phạm gây ra 50% ca nhiễm khuẩn phải nhập viện mỗi năm, đặc biệt nguy hiểm phải kể đến đó chính là nhiễm trùng máu.

Theo tờ Medical Daily của Mỹ, các vi khuẩn trong nhóm này chính là mối đe dọa lớn nhất đối với con người. Chúng có thể kháng nhiều loại thuốc kháng nhau và hơn cả, chúng chống lại carbapenem (vốn đạt hiệu quả cao trong việc điều trị vi khuẩn kháng thuốc). Một điều đáng sợ là đến nay, không có cách nào để điều trị bệnh do nhóm vi khuẩn này gây ra cả. Các vi sinh vật, vi khuẩn này gây ra tử vong cho người bệnh.

vi sinh vậtCác chủng vi sinh vật đặc biệt nguy hiểm hiện nay vẫn chưa có phương thức chữa trị 

3.2. Nhóm mức nguy hiểm cao

  • Enterococcus faecium, kháng vancomycin: Làm nhiễm trùng vết thương và nhiễm trùng đường tiết niệu.
  • Staphylococcus aureus, kháng methicillin: Gây ra các bệnh về dạ dày hay còn gọi là ngộ độc thực phẩm.
  • Helicobacter pylori, kháng clarithromycin: Hay ảnh hưởng tới dạ dày, lâu ngày dẫn đến viêm loét khó chữa trị.
  • Campylobacter, kháng fluoroquinolone: Thủ phạm của một số bệnh dạ dày cũng như đường tiêu hóa như tiêu chảy, đau bụng, co thắt.
  • Salmonella spp., kháng fluoroquinolone: Tác nhân dẫn đến các triệu chứng như tiêu chảy, đau bụng, sốt.
  • Neisseria gonorrheae, kháng cephalosporin thế hệ thứ 3 và fluoroquinolone: Nguyên nhân tiềm ẩn làm nhiễm trùng hệ thống sinh sản, dẫn đến vô sinh nếu không chữa trị kịp thời. Bên cạnh đó, vi sinh vật này cũng có thể gây nhiễm trùng mắt.

Vi khuẩn thuộc nhóm này hiện nay đã có thể kiểm soát phần nào.

3.3. Nhóm nguy hiểm vừa

  • Streptococcus pneumoniae, không nhạy cảm với penicillin: Làm xảy ra hàng loạt bệnh viêm phổi, viêm xoang, nhiễm trùng tai.
  • Haemophilus influenzae, kháng ampicillin: Hay tấn công trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, gây ra nhiễm trùng tai, thậm chí đôi lúc là nhiễm trùng máu.
  • Shigella spp., kháng fluoroquinolone: Khiến các bệnh đường ruột đặc trưng xảy ra, đặc biệt là tiêu chảy ra máu.

Y học đã có thể kiểm soát các vi khuẩn thuộc nhóm nguy hiểm vừa này.

vi sinh vậtVi sinh vật sẽ bị diệt khoảng 90% khi tắm

Xem thêm:

  1. Bong Gân Cổ Chân Là Gì - Xử Trí Khi Bị Bong Gân
  2. Viêm Đa Khớp - Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Điều Trị
  3. “Thuốc Bổ Xương Khớp” Từ Những Loại Thực Phẩm Thiên Nhiên

Các loại vi sinh vật có thể gây ra những tiềm ẩn bệnh tật khôn lường mà con người chúng ta tuyệt đối không được xem nhẹ. Hy vọng với các thông tin trên đây, Elipsport đã giúp bạn có được cái nhìn tổng quan về chúng. Trên hết, chúng ta cần phải đảm bảo vệ sinh cá nhân cũng như môi trường sống an toàn, có một chế độ sinh hoạt lành mạnh để tránh bị ảnh hưởng bởi các loại vi sinh vật nguy hiểm.

Kiddo Nguyễn

TẬP ĐOÀN THỂ THAO ELIPSPORT

Website tập đoàn: elipsport.vn

Fanpage tập đoàn: facebook.com/elipsport.vn

Youtube: youtube.com/Elipsportvn

Liên hệ: elipsport.vn/lien-he

Tổng đài MIỄN PHÍ: 1800 6854

Sản phẩm bạn quan tâm

Tập Đoàn Thể Thao Elipsport

Giấy CNĐKDN số : 0315931524 cấp bởi Sở kế hoạch và đầu tư TP.HCM

Địa chỉ ĐKKD: 1A Hoàng Trọng Mậu, Tân Hưng, Quận 7,TP. Hồ Chí Minh.